Hồ Trường

Hồ Trường – Nguyễn Bá Trác
Trần Lãng Minh ngâm

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.
Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.
Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh, nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

Nguyễn Bá Trác

Advertisements

One comment

  1. Bài Thơ Hồ Trường và tác giả Nguyễn Bá Trác

    Có người nói: Nếu nữ giới xính thơ (thích thơ) ưa bài Hai Sắc Hoa Ti-gôn của T.T.KH, có tính cách than phiền vì chưa được (chồng) đối xử đúng mức như trong câu: “… Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời, Ái ân lạt lẽo của chồng tôi… “, thì nam giới lại ưa bài Hồ Trường và trong các chiếu rượu, đã không ít người ngâm nga: “… Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu… Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường… ”

    Một thực tế là bài thơ Hồ được nhiều người biết nhưng lại không… thuộc cả bài lẫn thân thế tác giả cùng lý do ra đời của nó. Có người khi ngâm nga nó, đã đọc… sai, thiếu hoặc lẫn lộn vị trí các câu thơ trong bài.

    Hồ Trường, chữ Hồ 壺 thuộc bộ Sĩ mang nghĩa cái bầu hay cái bình dùng để chứa chất lỏng và chữ Trường 觴 (hay còn đọc là Thương trong tiếng Tàu) thuộc bộ Giác mang nghĩa chén đựng rượu. Nguyễn Bá Trác, tác giả Hồ Trường sinh năm Tân Tị (1881) và bị giết chết vào năm Ất Dậu (1945), có hiệu là Tiêu Đẩu, người làng Bảo An huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Năm Bính Ngọ (1906), ông thi đậu Cử Nhân và sau đó hưởng ứng phong trào Duy Tân, Đông Du nên đã sang Nhật Bản du học. Khi chính quyền Nhật Bản thỏa hiệp được với thực dân Pháp, ông đã bị trục xuất và phải đào tị sang nước Tàu (Trung Hoa). Chính trong thời gian bôn ba bên Tàu, ông đã sáng tác ra bài thơ Hồ Trường.
    Có là người phải sống trong cảnh bôn ba nơi xứ người, chúng ta mới thấu nỗi vô định của những chàng trai mưu cầu việc lớn nhưng việc lớn lại cứ xa vời nên đành mượn rượu mà gửi lời tâm sự. Chính Nguyễn Bá Trác đã viết trong Hạn Mạn Du Ký: ” Loanh quanh trong nước một năm, rồi tạm trọ ở Xiêm La (Thái Lan) hơn 10 ngày, khách (tác giả Nguyễn Bá Trác) qua Nhật Bản một tháng rồi lại quay về Trung Hoa, bao nhiêu thương phụ to, tỉnh thành lớn như Ba Thục (miền Tây), U Uyên (đất Bắc), Quế Việt (cõi Nam)… đều là chỗ mình có để ít nhiều vết xe dấu ngựa “.

    Tình cảnh Nguyễn Bá Trác tương tự hoàn cảnh các thanh niên yêu nước của thế hệ ông và cả các thế đi sau. Chí cao vời vợi, nhiệt huyết sôi sục vì công cuộc cứu nước nhưng để sau cùng: Kẻ trôi nổi phiêu bạt hoặc bỏ xác nơi xứ người, người sống thì như một kẻ lưu vong (quê hương còn đó nhưng đâu về được) hoặc đau đớn thay, có người lại trở về nước hợp tác với chính quyền là thực dân Pháp.

    Tình cảnh đó đã tạo ra tâm trạng buông trôi sống trong men rượu, khói thuốc và chí lớn đổ vào… hồ trường.

    Tuy là tác giả bài thơ (hay bài ca) nổi tiếng như vậy nhưng hầu như không ai xếp Nguyễn Bá Trác là nhà thơ mà coi ông như một nhà văn qua những bài báo ông viết trên tờ Nam Phong Tạp Chí (từ năm 1917-1932) cùng các tác phẩm: Hoàng Việt Giáp Tí Niên Biểu, Hán Học Văn Học Khảo và nhất là một thiên ký sự có tên Hạn Mạn Du Ký được độc giả khi đó hết sức tán thưởng. Một tập du ký kể chuyện xuất dương qua Nhật Bản, Tàu cầu học nhưng sự học chưa có kết quả mà cái hy vọng cứu quốc cũng thành chuyện viển vông.

    Khi về nước, Nguyễn Bá Trác đảm nhiệm chức vụ chủ bút về Hán Văn trong Nam Phong Tạp Chí rồi sau đó vào Huế làm Tá Lí Bộ Học, ít lâu ông được thăng chức Tuần Phủ Quảng Ngãi rồi Tổng Đốc Thanh Hóa, Bình Định.

    Cũng có người lại nói nhân trong một chiếu rượu, khi nghe một người bạn Tàu (Nguyên Quân) hát nghêu ngao mấy câu thơ Cổ Phong mà Nguyễn Bá Trác đã cầm bút lên dịch và thành bài Hồ Trường.
    Hồ Trường được đăng đầu tiên trên tờ Nam Phong Tạp Chí rồi sau đó đã được nhiều thế hệ thanh niên sao đi chép lại nên đã không tránh khỏi chuyện dị biệt. Dưới đây là 4 bản Hồ Trường mà tác giả bài viết này (PTV) sao lục để quý bạn đọc so sánh.

    1. Bản in trong trang 327, quyển VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ GIẢN ƯỚC TÂN BIÊN (NXB Anh Phương, Sài Gòn năm 1965) của giáo sư Phạm Thế Ngũ.

    Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
    Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.
    Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.
    Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
    Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
    Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
    Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.
    Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn
    Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
    Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
    Nào ai tỉnh nào ai say.
    Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
    Nào ai tỉnh, nào ai say.
    Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
    Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

    2. Bản đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật (trong nước) số… năm 1998.

    Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường.
    Hà tất tiêu dao bốn bể, xuân lạc tha hương.
    Trời Nam nghìn dặm thẳm, mây nước một màu sương.
    Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
    Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
    Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
    Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn
    Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
    Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương
    Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng
    Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta at hay
    Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây?

    3. Bản in trong báo Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), trang 8, số 115 ra tháng 11 năm 1998.

    Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường,
    Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha phương.
    Trời Nam nghìn dặm thẳm, non nước một màu sương
    Chí chưa thành, danh chưa đạt, trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
    Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang ai người tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
    Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
    Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn.
    Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan.
    Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát giương.
    Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.
    Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta ta hay
    Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

    4. Bản in trong quyển Chơi Chữ của tác giả Lãng Nhân-Phùng Tất Đắc, trang 75 (Sài Gòn-1970)

    Trượng phu đã không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
    Sao lại tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương?
    Trời Nam nghìn dặm thẳm; mây nước một màu sương.
    Học không thành, công chẳng lập, Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.
    Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi: Trời đất mang mang, ai là tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
    Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
    Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng-lạn.
    Rót về Tây phương, mưa Tây-sơn từng trận chứa chan;
    Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dương.
    Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
    Nào ai tỉnh, nào ai say?
    Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
    Nào ai tỉnh , nào ai say?
    Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
    Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây!

    Ngồi ghế Tổng Đốc Bình Định, Nguyễn Bá Trác bị Cộng Sản bắt và xử bắn công khai tại Qui Nhơn trong giai đoạn Cách Mạng Tháng Tám năm 1945.

    Phạm Thắng Vũ

    Nguồn : Blog Phạm Thắng Vũ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s